Nghiên cứu xây dựng chuẩn mô hình “phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng”

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Nga

Năm đăng ký: 2016

Năm nghiệm thu: 2017

Tóm tắt:

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bạo lực trên cơ sở giới (BLG) là một hiện tượng đã tồn tại từ lâu đời tại nhiều quốc gia bất kể điều kiện kinh tế xã hội, địa lý, sắc tộc, tôn giáo. Đặc biệt, nạn nhân chủ yếu của BLG là phụ nữ và trẻ em. Trước đây, BLG được xem như hành vi được xã hội thừa nhận khi phụ nữ luôn được xem có địa vị thấp kém hơn so với nam giới. Cùng với sự phát triển của xã hội, các chỉ số phát triển không chỉ xem xét đến khía cạnh về kinh tế mà còn được thể hiện qua bình đẳng giữa con người với con người. Những can thiệp của xã hội được hình thành, duy trì và phát triển nhằm ngăn chặn và hạn chế tối đa hậu quả của BLG. Nhiều nước trên thế giới đã ban hành hệ thống chính sách pháp luật, các chương trình, hoạt động từ trung ương đến địa phương, các mô hình tại cộng đồng để phòng ngừa BLG, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Đây được xem là một trong những khía cạnh quan trọng của nền an sinh xã hội đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Việt Nam là một nước chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng phong kiến nho giáo, cùng với sự phát triển của xã hội, hiện tượng BLG đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái đang là một trong những vấn đề bức xúc của xã hội. Thời gian gần đây rất nhiều vụ việc về tình trạng BLG đối với phụ nữ, đặc biệt là trẻ em gái đã được các phương tiện truyền thông đăng tải, phản ánh khiến cho xã hội hết sức phẫn nộ. Tuy nhiên đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, còn rất nhiều những vụ việc đau lòng khác đang diễn ra từng ngày, từng giờ làm nguy hại và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của rất nhiều người, nhiều gia đình và cộng đồng xã hội.

Phát triển kinh tế phải đi đôi với ổn định xã hội với một nền an sinh vững chắc cho mỗi cá nhân là chủ trương mà Đảng, Nhà nước đã đưa ra trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước. Việc phòng ngừa và hạn chế BLG không chỉ là việc bảo vệ thể chất và tinh thần cho mỗi cá nhân mà còn tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó việc triển khai các biện pháp phòng ngừa và ứng phó với BLG sẽ góp phần thực hiện mục tiêu trên.

Để đáp ứng được các yêu cầu này đòi hỏi cần có giải pháp hữu hiệu từ cấp trung ương đến địa phương. Giải pháp phòng chống BLG dựa vào cộng đồng được xem xét là một phương án cần thiết để thực hiện phòng ngừa và ứng phó với BLG, hỗ trợ tối đa cho nạn nhân của BLG. Do đó, nghiên cứu “Xây dựng chuẩn mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng” được Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội phê duyệt với mục tiêu đưa ra những tiêu chuẩn cần thiết cho một mô hình nhằm hỗ trợ nạn nhân ngay tại cộng đồng một cách hiệu quả và đảm bảo quyền lợi cho các nạn nhân bị bạo lực.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung:

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Từ đó, đề xuất các điều kiện và dịch vụ cần thiết cho mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng để hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực.

b. Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và lý thuyết về mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng;

- Xác định các dịch vụ tối thiểu cần thiết phải có của mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng;

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng cho nạn nhân bị bạo lực;

- Nghiên cứu một số chuẩn mô hình cung cấp dịch vụ cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng đã được quốc tế xây dựng và triển khai thành công;

- Thiết lập kết nối giữa đơn vị cung cấp dịch vụ công hỗ trợ nạn nhân của bạo lực (Trung tâm công tác xã hội) với mô hình tại cộng đồng;

- Đề xuất các giải pháp thực hiện triển khai mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng.

3. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm 3 chương

Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng;

Chương II. Thực trạng mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng;

Chương III. Đề xuất áp dụng mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng trong thực tiễn.

4. Nội dung chính của đề tài

          4.1. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như giới, giới tính, bình đẳng giới, định kiến giới, bạo lực, bạo lực trên cơ sở giới (BLG), chuẩn, mô hình, mô hình tại cộng đồng và chuẩn mô hình. Đề tài chỉ ra hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về BLG (CEDAW 1992, VV88 app thành viên mới đồng Liên hợp quốc 1993, UNHCR), trong khi văn bản pháp luật Việt Nam (Luật Bình đẳng giới 2006) đã đề cập đến thuật ngữ này nhưng chưa đưa ra định nghĩa chính thức. Nhóm nghiên cứu vận dụng hai lý thuyết cơ bản: lý thuyết vai trò, vị thế xã hội và lý thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow để lý giải nguyên nhân và cách thức hỗ trợ nạn nhân BLG theo thứ tự ưu tiên nhu cầu.

Đề tài phân loại bốn hình thức BLG phổ biến gồm: bạo lực thể chất; bạo lực tinh thần; bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế. Đồng thời tổng quan kinh nghiệm quốc tế về cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng thông qua các mô hình tiêu biểu như: hệ thống đường dây nóng khẩn cấp (Canada, Đài Loan, Mỹ), nhà tạm lánh phân cấp độ (Canada), mô hình dịch vụ một cửa - One-stop (Zambia, Nam Phi, Kenya), mô hình Hoa hướng dương (Hàn Quốc) và các chương trình huy động sự tham gia của nam giới trong phòng ngừa bạo lực (Cộng hòa Công-gô). Chương này cũng dẫn chứng kết quả của các nghiên cứu Groenewald (2009) về nhà tạm lánh tại Nam Phi, Grisurapong (2002) về mô hình hỗ trợ tại Thái Lan và Colombini (2011) về mô hình tại Malaysia để làm rõ vai trò của việc kết nối liên ngành giữa y tế, tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước trong vận hành mô hình.

Từ những kinh nghiệm quốc tế nêu trên, chương này khái quát bốn tiêu chuẩn cốt lõi cần đảm bảo khi xây dựng mô hình tại cộng đồng gồm địa điểm, cơ sở vật chất, nhân lực và dịch vụ cung cấp, cùng mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ giữa các tiêu chuẩn này: địa điểm phù hợp tạo thuận lợi cho việc hoàn thiện cơ sở vật chất và bố trí nhân lực; cơ sở vật chất và nhân lực đầy đủ là điều kiện quyết định chất lượng dịch vụ cung cấp cho nạn nhân.

          4.2. Chương 2: Thực trạng mô hình phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng

Chương 2 phân tích nhu cầu của nạn nhân BLG theo năm nhóm: bảo vệ an toàn, chăm sóc y tế, tư vấn tâm lý và trợ giúp pháp lý, hỗ trợ chuyển gửi và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng; đồng thời chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến BLG xuất phát từ nhận thức và bất bình đẳng giới, khó khăn kinh tế và sự thiếu hụt của hệ thống pháp luật. Đề tài khảo sát thực trạng kết nối dịch vụ giữa Trung tâm công tác xã hội (TTCTXH) với các mô hình tại cộng đồng, cho thấy dù cả nước đã có 37 TTCTXH (tính đến hết năm 2015) nhưng đối tượng nạn nhân BLG sử dụng dịch vụ tại đây còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào nạn nhân bạo lực gia đình.

Về tình hình triển khai trong nước, chương này phân tích hai mô hình chính đang được áp dụng: mô hình ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của BLG do Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội hướng dẫn (gồm Ban chỉ đạo cấp xã, Câu lạc bộ, Tổ phòng chống BLG, địa chỉ tin cậy/nhà tạm lánh) và mô hình can thiệp phòng chống bạo lực gia đình do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai (gồm Ban chỉ đạo cấp xã, Câu lạc bộ xây dựng gia đình phát triển bền vững, Nhóm phòng chống bạo lực gia đình, địa chỉ tin cậy). Kết quả cho thấy sau 5 năm thí điểm, số mô hình ngăn ngừa và giảm thiểu tác hại của BLG đã tăng từ 63 lên 75, số địa chỉ tin cậy trên toàn quốc tăng từ 9.793 (năm 2009) lên 35.179 (năm 2017), tuy nhiên hiệu quả hoạt động thực chất còn hạn chế.

Cụ thể, nội dung sinh hoạt câu lạc bộ còn đơn điệu, chủ yếu tập trung vào chủ đề bạo lực gia đình mà chưa mở rộng sang các hình thức BLG khác như quấy rối tình dục; số lượng nạn nhân tìm đến địa chỉ tin cậy có xu hướng giảm dần qua các năm (từ 11.530 người năm 2009 xuống còn 4.778 người năm 2015) không phải do số vụ bạo lực giảm mà do tâm lý e ngại “vạch áo cho người xem lưng”, thiếu đảm bảo an toàn, riêng tư và một số nơi không bố trí đủ kinh phí duy trì hoạt động theo quy định. Chương 2 cũng phân tích bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng mô hình gồm hệ thống chính sách pháp luật và việc thực thi, sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, nhận thức của VV 88 chiến thắng là vô hạn và tâm lý e dè của nạn nhân, từ đó đưa ra năm nhóm vấn đề cần khắc phục: sự tham gia còn mờ nhạt của ngành công an; hạn chế trong truyền thông thay đổi hành vi; thiếu trang thiết bị và kinh phí cho địa chỉ tin cậy; thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành; và quy trình chuyển gửi nạn nhân giữa các cấp dịch vụ còn mờ nhạt — làm cơ sở để đề xuất mô hình mới ở Chương 3.

          4.3. Chương 3: Đề xuất mô hình phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng và điều kiện áp dụng trong thực tiễn

Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế cùng xu hướng gia tăng nhận thức về BLG, Chương 3 đề xuất mô hình chuẩn phòng chống BLG tại cộng đồng gồm 5 thành phần: Ban chỉ đạo (cấp xã), Tổ tư vấn, Đường dây nóng, Tổ phòng chống bạo lực và Địa chỉ tin cậy - nhà tạm lánh, với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu về thành viên cụ thể cho từng cấu phần. Đề tài đưa ra các điều kiện chi tiết về cơ sở vật chất (vị trí, diện tích, trang thiết bị của địa chỉ tin cậy - nhà tạm lánh, thiết bị y tế, khu vực tư vấn, đường dây nóng), về nhân lực (tiêu chuẩn chung và yêu cầu riêng cho từng cấu phần) và về kinh phí vận hành mô hình.

Đáng chú ý, đề tài đề xuất kết nối Đường dây nóng của mô hình với đường dây nóng sẵn có tại các TTCTXH cấp tỉnh (như Thái Nguyên, Hải Dương, Yên Bái), theo đó nhân viên trực đường dây nóng cấp tỉnh sẽ tư vấn ban đầu và kết nối chuyên gia khi cần tư vấn chuyên sâu, đồng thời thông báo kịp thời cho Tổ phòng, chống bạo lực tại địa bàn để can thiệp trực tiếp. Về hoà nhập cộng đồng, mô hình nhấn mạnh việc trang bị kiến thức, kỹ năng phòng tránh tái diễn bạo lực, hỗ trợ học nghề và tạo việc làm nhằm giúp nạn nhân ổn định kinh tế, giảm nguy cơ tiếp tục lệ thuộc và chịu đựng bạo lực.

Chương này cũng xây dựng lộ trình thực hiện gồm 8 nhóm nhiệm vụ theo các giai đoạn từ 2016 đến 2030, bao gồm: (1) ban hành tiêu chuẩn hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực tại cộng đồng (2016-2020); (2) hoàn thiện hệ thống pháp luật về BLG, trong đó cần bổ sung định nghĩa rõ ràng về BLG khi sửa đổi Luật Bình đẳng giới và xem xét thống nhất một cơ quan quản lý nhà nước về BLG và bạo lực gia đình; (3) tổ chức truyền thông tại cộng đồng từ năm 2016; (4) xây dựng hệ thống TTCTXH/cơ sở trợ giúp nạn nhân (2016-2030); (5) tổ chức tập huấn hằng năm về bình đẳng giới, BLG, bạo lực gia đình; (6) xây dựng tài liệu tập huấn kỹ năng cung cấp dịch vụ cho VV.88 truy cập ngay thực hiện (2016-2018); (7) hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch, VV88.casino cá cược trực tuyến - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, Công an, Tư pháp, Y tế (2017-2018); và (8) xây dựng đường dây nóng quốc gia về BLG kết nối trực tiếp với đầu số 111 hoặc 113 hiện có (đến năm 2030).

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định bạo lực trên cơ sở giới là một vấn đề đáng báo động, đòi hỏi sự can thiệp ngay từ cấp cộng đồng để nạn nhân có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ hỗ trợ. Mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước đã có hướng dẫn triển khai mô hình giảm thiểu tác hại của BLG và bạo lực gia đình tại cộng đồng, song các mô hình này mới dừng ở mức thí điểm, chưa có điều kiện tiêu chuẩn thống nhất để nhân rộng trên phạm vi toàn quốc; đồng thời việc thiếu định nghĩa pháp lý rõ ràng về BLG dẫn đến tình trạng đồng nhất BLG với bạo lực gia đình trong nhận thức của cả VV 88 chiến thắng là vô hạn và VV.88 truy cập ngay cơ sở.

Từ kết quả rà soát các mô hình hiện có, đề tài đã đề xuất một mô hình chuẩn về phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng với các thành phần: Ban chỉ đạo, Tổ phòng chống bạo lực, Tổ tư vấn, Đường dây nóng và Địa chỉ tin cậy, kèm theo lộ trình và khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về bạo lực trên cơ sở giới và bạo lực gia đình, cũng như xây dựng đường dây nóng quốc gia về BLG.

Thành viên đề tài:

CN. Nguyễn Việt Hải, Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới, Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội, Thư ký; CN. Đàm Khắc Hoàn, Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới, Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội, Thành viên chính; ThS. Nguyễn Hoành Nghĩa, Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới, Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội, Thành viên chính; ThS. Đoàn Thị Kim Thủy, Chuyên viên Vụ Bình đẳng giới, Bộ VV88.casino cá cược trực tuyến – Thương binh và Xã hội, Thành viên chính; ThS. Lê Thị Hồng Giang, Tổ chức CARE quốc tế, Thành viên; ThS. Đào Thị Vi Phư

Từ khóa: bạo lực trên cơ sở giới bình đẳng giới mô hình phòng chống bạo lực địa chỉ tin cậy nhà tạm lánh cộng đồng nạn nhân bạo lực

Tên file View
CB2016-09-16.pdf Đăng nhập để xem
Giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Quách Thị Quế

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đề xuất giải pháp phát triển đào tạo trực tuyến trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thanh Tùng

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý văn bằng số trong giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Luyến

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Xây dựng khung năng lực đội ngũ VV.88 truy cập ngay quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở địa phương đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Hải Cường

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đổi mới hoạt động truyền thông trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: PGS.TS Cao Văn Sâm

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2020

Đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo cho VV.88 truy cập ngay các cơ sở điều trị nghiện ma tuý tự nguyện

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thị Vân

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm tình trạng bạo lực với trẻ em ở Việt Nam

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Vũ Thị Kim Hoa

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu xây dựng chuẩn mô hình “phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới tại cộng đồng”

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Nga

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2017

Thực trạng và giải pháp tăng cường năng lực các tổ chức pháp chế ngành VV88 Casino khuyến mãi vô vàn, thương binh và xã hội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Hà Đình Bốn

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2016

Nghiên cứu năng lực quản trị nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

Loại nhiệm vụ: Đề tài cấp Bộ

Chủ nhiệm: ThS. Đinh Xuân Thành

Lĩnh vực: Các lĩnh vực khác

Năm hoàn thành: 2023

Trang chủ    |    Sơ đồ Website    |    Liên hệ    |